Điện thoại: (04) 62730473 | Fax: (04) 62730478

Xã hội


  • CHÍNH SÁCH VÀ BIỆN PHÁP ĐỐI VỚI GIA ĐÌNH ĐA VĂN HÓA

    I. Cơ sở thực tiễn

    1. Những biến đổi trong xã hội Hàn Quốc về vấn đề hôn nhân và gia đình

    Đề cập tới vấn đề gia đình Hàn Quốc truyền thống thì cho dù là người Hàn Quốc hay người nước ngoài nghiên cứu về vấn đề này đều nhất trí cho rằng, đó là cấu trúc gia đình có nhiều thế hệ chung sống mang đậm tính Nho giáo, nặng tính gia trưởng và coi trọng trực hệ, dòng dõi.

  • CHƯƠNG TRÌNH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI CAO TUỔI Ở HÀN QUỐC

    Năm 2000, Hàn Quốc chính thức trở thành “xã hội già hóa” khi tỷ lệ người cao tuổi (từ 65 tuổi trở lên) chiếm 7% tổng dân số. Để đối phó thực trạng lão hóa dân số cao, chương trình tạo việc làm dành cho người cao tuổi (노인 일자리사업 hay Korean Senior Employment Program - KSEP) được đề xuất dưới thời chính quyền Tổng thống Roh Moo-huyn (2003-2008) chính thức được thực hiện từ năm 2004. Căn cứ luật pháp dẫn tới sự ra đời của chương trình tạo việc làm cho người cao tuổi là Luật Xúc tiến tuyển dụng người cao tuổi (Bộ Lao động và Việc làm), Luật Phúc lợi người cao tuổi (Bộ Y tế và Phúc lợi)[1] và Luật Khung về tỷ lệ sinh thấp trong một xã hội già hóa (2005). Theo đó, việc làm dành cho người cao tuổi là công việc phù hợp với người cao tuổi từ 65 tuổi trở lên, được cung cấp, được tạo ra dưới sự hỗ trợ của chính phủ[2].



    [1] Eunhee Choi (2016), Older worker and federal work programs: the Korean senior employment program (KSEP), https://www.tandfonline.com/doi/abs/10.1080/08959420.2016.1153993?journalCode=wasp20, tr.5.

    [2]강은나 (2017), Current state and challenges of senior employment programs, https://www.google.com/url?sa=t&rct=j&q=&esrc=s&source=web&cd=1&cad=rja&uact=8&ved=2ahUKEwjmn_WtyvHeAhUEw7wKHbwBC6AQFjAAegQIABAC&url=https%3A%2F%2Fwww.kihasa.re.kr%2Fcommon%2Ffiledown.do%3Fseq%3D38847&usg=AOvVaw1RaYliQaeg0jKlCivRaKgn, tr. 29.

  • SINH HOẠT PHÍ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI ĐƠN THÂN Ở HÀN QUỐC

    Theo báo cáo “Thống kê người cao tuổi năm 2017” do Cục Thống kê quốc gia Hàn Quốc công bố tháng 9/2017 cho thấy 41,6% người cao tuổi đang trực tiếp chi trả sinh hoạt phí của bản thân, cao hơn nhiều so với những người nhận được sự giúp đỡ của con cái, họ hàng. Trong khi đó, tỷ lệ người cao tuổi trang trải sinh hoạt phí từ nguồn hỗ trợ của con cái, họ hàng là 31,8% và chính phủ, tổ chức xã hội là 26,6%[1]. Vì vậy, nguồn sinh hoạt phí của nhiều người cao tuổi Hàn Quốc theo mức độ phổ biến lần lượt là 1. Bản thân và bạn đời; 2. Con cái, họ hàng hỗ trợ; 3. Chính phủ, tổ chức xã hội. Điều này có nghĩa rằng, trước tiên, họ tìm kiếm sự giúp đỡ trong quy mô gia đình rồi mới đến sự giúp đỡ từ bên ngoài xã hội. Nhìn chung, người cao tuổi Hàn Quốc vẫn cần sự hỗ trợ, giúp đỡ về mặt vật chất từ con cái và xã hội trong cuộc sống hàng ngày.



    [1]통계청(Cục Thống kê Hàn Quốc) (2017), “2017 고령자통계” (Thống kê người cao tuổi 2017), tr. 10.

  • BẢO HIỂM HƯU TRÍ Ở HÀN QUỐC

    Trong quá trình tập trung phát triển kinh tế giai đoạn 1960-1980, chính phủ Hàn Quốc đã bắt đầu xây dựng hệ thống an sinh xã hội. Năm 1962, Luật Bảo vệ sinh kế đã được ban hành cùng các các Luật Hưu trí đối với quân nhân, nhân viên chính phủ và giáo viên. Năm 1988, hệ thống lương hưu được hoàn thiên và chính thức áp dụng nhưng đến năm 1999 mới trở thành quy định bắt buộc ở Hàn Quốc. Đến tháng 1 năm 2008, hệ thống Lương hưu Tuổi già Cơ bản chính thức ra mắt, giúp nhiều người lớn tuổi hơn 65, thuộc các tầng lớp có thu nhập thấp, cũng có quyền nhận lương hưu[1].



    [1] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2009) , Hàn Quốc: Đất nước – Con người, Trung tâm Quảng bá Văn hóa hải ngoại Hàn Quốc, tr. 122.

  • ĐIỀU KIỆN VÀ THÁCH THỨC CỦA LAO ĐỘNG CAO TUỔI Ở HÀN QUỐC (Phần 2)

    Những thách thức đối với lao động cao tuổi ở Hàn Quốc

    Chính phủ Hàn Quốc đã nhận thấy các vấn đề của lao động trên 50 tuổi. Để giải quyết sự bất ổn định trong việc làm, khắc phúc điều kiện nghặt nghèo khi tái tuyển dụng và những lo lắng của người cao tuổi, chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện 6 chính sách sau:


  • ĐIỀU KIỆN VÀ THÁCH THỨC CỦA LAO ĐỘNG CAO TUỔI Ở HÀN QUỐC (Phần 1)

    Điều kiện hiện tại của lao động cao tuổi ở Hàn Quốc

    Trong quá khứ, hầu hết các quốc gia OECD khuyến khích nghỉ hưu sớm để giải quyết các vấn đề liên quan đến lao động trẻ và tỷ lệ thất nghiệp. Tuy nhiên, kể từ giữa những năm 1990, biến đổi kép về nhân khẩu học (tỷ lệ sinh thấp và già hóa dân số) đã làm suy giảm hệ thống an sinh xã hội ở các quốc gia OECD. Bên cạnh đó, sự suy giảm tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến cải cách lương hưu và triển khai hàng loạt chính sách việc làm khác nhau nhằm thúc đẩy cơ hội cho lực lượng lao động cao tuổi.

    So với các quốc gia thuộc khối OECD, tỷ lệ người cao tuổi Hàn Quốc có việc làm tương đối cao. Tỷ lệ có việc làm (độ tuổi 50-64) là 69,9% và tỷ lệ có việc làm (trên 65 tuổi) là 33,8%. Tỷ lệ lao động (trên 50 tuổi) liên tục tăng. Tỷ lệ có việc làm (độ tuổi 55-64) cao nhất. Ngoài ra, tỷ lệ có việc làm ở người cao tuổi tiếp tục tăng trong vài năm gần đây. Do vậy, xu hướng tăng trưởng này dự đoán sẽ tiếp tục tăng.

  • BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở HÀN QUỐC (PHẦN 2)

     

    2. Phụ nữ Hàn Quốc gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa gia đình và sự nghiệp

    Nhìn chung, việc cân bằng giữa gia đình và sự nghiệp đối với người phụ nữ Hàn Quốc là khá khó khăn. Trong một cuộc thăm dò trên 3.000 công ty vào năm 2015, hơn 80% người được hỏi cho rằng: chỉ có 1/3 người lao động nữ trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản.

    Luật Lao động Hàn Quốc yêu cầu các công ty tư nhân phải cho phép phụ nữ mang thai có 1 năm nghỉ thai sản. Bà Park Geun-hye, nữ tổng thống quyền lực đầu tiên của châu Á đã tuyên bố sẽ tạo ra 1,7 triệu việc làm cho phụ nữ, nâng tỷ lệ việc làm lên thêm 7%, tức 62%; đồng thời cũng sẽ nêu đích danh và trừng trị những công ty có quá ít nhân viên nữ. Tuy nhiên tỷ trọng phụ nữ có việc làm trong độ tuổi lao động của Hàn Quốc chỉ đạt 50% vào năm 2000 và chỉ tăng thêm 5% trong hơn một thập kỷ qua.

  • BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở HÀN QUỐC (PHẦN 1)

    Gần đây, theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu Phúc lợi và Xã hội Hàn Quốc (KIHASA) với đối tượng là 2.000 nam/nữ chưa kết hôn thì 76% đàn ông và 82% phụ nữ phản đối ý kiến cho rằng kinh nghiệm làm việc của người chồng hơn vợ sẽ giúp đỡ nhiều cho đời sống gia đình. Bên cạnh đó, chỉ có 20% nam giới và 14% nữ giới tán thành quan niệm chồng đi làm kiếm tiền, vợ ở nhà làm nội trợ. Như vậy, hiện tại, ở Hàn Quốc đã có những thay đổi trong nhận thức, đặc biệt là của giới trẻ, về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội hiện đại. Đó là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, xét một cách tổng quan và trên mặt bằng chung thì vấn đề bất bình đẳng giới hay quan niệm “nam tôn, nữ ti” ở Hàn Quốc vẫn là một thực tế cần nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa từ các nhà hoạch định chính sách, có như vậy mới có thể tạo nên những thay đổi tích cực và căn bản cho vị thế của người phụ nữ Hàn Quốc trên bình diện toàn xã hội.

  • XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA VIỆT NAM VỚI PHONG TRÀO LÀNG MỚI SAEMAUL CỦA HÀN QUỐC

    1. Tóm lược về mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Việt Nam

    Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới là văn bản trực tiếp và toàn diện nhất của Trung Ương.

    Ngày 04/6/2010, Chính phủ ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg, về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nêu rõ 11 nội dung, 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp.

    Nội dung chủ yếu của nông thôn mới có thể khái quát theo 5 tiêu chí cơ bản sau:

    - Làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;

    - Sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;

    - Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao;

    - Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn;

    - Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.

  • QUAN ĐIỂM VỀ KẾT HÔN CỦA GIỚI TRẺ HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN

    Hàn Quốc và Nhật Bản đều là hai quốc gia có có tỷ lệ sinh thấp. Năm 2005, tỷ lệ sinh của hai nước đạt mức thấp kỷ lục: Hàn Quốc là 1,08  và Nhật Bản là 1,26. Tỷ lệ sinh những năm gần đây của Hàn Quốc và Nhật Bản đều có sự cải thiện nhưng vẫn xếp mức thấp trong số các quốc gia. Tỷ lệ sinh năm 2014 của Nhật Bản là 1,4 (xếp thứ 208 trong số 224 quốc gia) và Hàn Quốc là 1,25 (xếp thứ 219). Tỷ lệ sinh năm 2015 của Hàn Quốc là 1,24 vẫn ở mức thấp hơn 1,46 của Nhật Bản.





Scroll To Top