Điện thoại: (04) 62730473 | Fax: (04) 62730478

Văn hoá


  • VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH HÀN QUỐC PHẦN II: THỜI KỲ SAU CHIẾN TRANH NAM BẮC HÀN ĐẾN NAY

    1. Giai đoạn 1954-1969

    Có thể nói, những năm cuối thập niên năm 50 là giai đoạn hoàng kim của ngành điện ảnh Hàn Quốc. Ngành điện ảnh Hàn Quốc phát triển không chỉ bởi số lượng phim sản xuất tăng vọt từ 8 phim năm 1954 lên tới 108 phim vào năm 1959[1] mà còn được đánh dấu bởi sự xuất hiện của các nhà sản xuất phim mới, các trang thiết bị, trường quay phục vụ sản xuất phim hiện đại.



    [1] ) Darcy Paquet, A Short history of Korean film, http://koreanfilm.org/history.html

  • MỘT SỐ NÉT ĐẶC TRƯNG CỦA VĂN HÓA ẨM THỰC HÀN QUỐC

    Điều kiện cơ bản nhất quyết định đến đời sống của con người chính là môi trường tự nhiên hay phong thổ, những yếu tố mà người ta thường xuyên phải đối mặt. Môi trường tự nhiên có tác động như một nhân tố hình thành nên môi trường xã hội như tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo và rộng lớn hơn nữa, nó còn góp phần hình thành tạo nên văn hóa lối sống độc đáo của từng vùng miền, từng dân tộc. Đặc biệt, nhân tố này còn có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành văn hóa ẩm thực cũng như phương pháp chế biến và nấu thức ăn hay phương thức thưởng thức món ăn.

  • VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ ĐIỆN ẢNH HÀN QUỐC PHẦN I: THỜI KỲ SƠ KHAI ĐẾN CHIẾN TRANH NAM - BẮC HÀN (~1953)

    1. Giai đoạn trước giải phóng 1945

    Qua Du hành ký của một du khách người Mỹ tên là Elias Burton Holmes công bố khoảng giữa năm 1901-1902, năm 1899, những thước phim đầu tiên đã được công chiếu tại Hàn Quốc. Trong thời gian ở lại Seoul, ông đã đi khắp thành Seoul, ghi lại phong cảnh, con người nơi đây bằng camera rồi đem chiếu trước Hoàng gia Chosun (Triều Tiên). Như vậy, sự manh nha của điện ảnh Hàn Quốc có thể coi là bắt đầu từ năm 1899, tức là chỉ ít năm sau buổi trình chiếu cuốn phim đầu tiên của anh em nhà Luymie tại nhà hàng “Grand Café de Paris”.

  • ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO ĐỐI VỚI VĂN HÓA GIA ĐÌNH HÀN QUỐC HIỆN ĐẠI (Phần 1)

     

    Nho giáo được sản sinh ra ở Trung Quốc vào thời Xuân thu – Chiến quốc, do Khổng Khâu (thường gọi là Khổng Tử: 551 TCN – 479TCN), người nước Lỗ sáng lập ra. Ông là người đã san định, hiệu đính, giải thích Ngũ kinh, tức Kinh thi, Thư, Lễ, Dịch, Xuân Thu. Sau khi ông mất, học trò tập hợp những lời dạy của thày lại soạn ra Luận ngữ.

  • HYANG KA ( HƯƠNG CA ) TRONG TAM QUỐC DI SỰ ( PHẦN 11 )

    Bài Hương ca thứ mười bốn xuất hiện trong câu chuyện về nhà sư Young Je[1] Vĩnh Tài ) gặp đạo tặc.

     

    Nội dung câu chuyện như sau:

    Nhà sư Vĩnh Tài tính tình hài hước, không bị ràng buộc bởi tiền của và giỏi sáng tác hương ca. Lúc tuổi xế chiều, ông có ý định sống ẩn cư ở Nam Nhạc. Khi đi tới Đại Hiện Lĩnh (đỉnh Đại Hiện) thì gặp toán cướp hơn 60 tên.



    [1] Nhà sư Vĩnh Tài ẩn cư ở nủi Trí Dị thời Nguyên Thánh Vương của Tân La và được mọi người biết đến là một vị cao tăng.

  • HYANG KA ( HƯƠNG CA ) TRONG TAM QUỐC DI SỰ ( PHẦN 10 )

    Bài Hương ca thứ mười ba xuất hiện trong câu chuyện về Sil Chung (Tín Trung ) treo mũ từ quan.[1]

     

    Nội dung câu chuyện như sau:

    Trước khi Hiếu Thành Vương lên ngôi, ở dưới cây bách trong cung điện, nhà vua cùng với hiền sĩ Tín Trung chơi cờ vây và có nói rằng: “Sau này, nếu như ta quên khanh thì có cây bách này làm chứng”.



    [1] Nguyên văn chữ Hán là Quải quan, nghĩa là treo mũ ( từ quan ). ( ND)

  • HYANG KA ( HƯƠNG CA ) TRONG TAM QUỐC DI SỰ ( PHẦN 9 )

    Bài Hương ca thứ mười hai xuất hiện trong câu chuyện về Huệ tinh ca (Bài ca sao chổi) của nhà sư Yung Cheon ( Dung Thiên ), Thời Chân Bình Vương.

    Truyện kể rằng:

    Có ba Hoa lang là Đệ ngũ Cư Liệt lang, Đệ lục Thực Xứ lang (còn gọi là Đột Xứ lang) và Đệ thất Bảo Đồng lang muốn đi chơi núi Kim Cương (còn gọi là núi Phong Nhạc) thì thấy sao chổi phạm vào Tâm Đại tinh.[1]



    [1] Tâm Đại tinh là tên một vì sao có vị trí trung tâm trong nhị thập bát tú.

  • HYANGKA ( HƯƠNG CA ) TRONG TAM QUỐC DI SỰ ( PHẦN 8 )

    Bài Hương ca thứ mười và mười một xuất hiện trong câu chuyện về Đâu suất ca [1]của nhà sư Wol Meong ( Nguyệt Minh ).

    Truyện kể rằng:

    Ngày mùng 1 tháng 4 năm Canh Tý (năm 760), tức năm thứ 19 đời vua Cảnh Đức, có hai mặt trời cùng xuất hiện suốt cả mười ngày mà không lặn.



    [1] Đâu suất ca: Bài ca cầu Phật. (ND)

  • HYANGKA ( HƯƠNG CA ) TRONG TAM QUỐC DI SỰ ( PHẦN 7 )

    Bài Hương ca thứ chín xuất hiện trong câu chuyện về Kwang Deok ( Quảng Đức) và Yeom Jang ( Nghiêm Trang ).

    Truyện kể rằng:

    Vào thời Văn Vũ Vương, có hai tăng lữ Quảng Đức và Nghiêm Trang là bạn thân thiết với nhau, họ ngày đêm ước hẹn với nhau rằng: “Ai về Tây phương trước thì phải cho nhau biết”. Sau đó, Quảng Đức ẩn cư ở phía Tây làng Phấn Hoàng, (có người cho rằng là chùa Hoàng Long, Tây Khứ phòng, chưa biết sai đúng thế nào), làm nghề khâu giày dép và mang theo vợ con đến cùng sinh sống.

  • HYANG KA (HƯƠNG CA) TRONG “TAM QUỐC DI SỰ” (Phần 6)

    Bài Hương ca thứ 7  trong cuốn “Tam quốc di sự” thuộc câu chuyện “Đức Phật đại bi nghìn tay chùa Bun Hwang (Phấn Hoàng) làm sáng mắt cho đứa trẻ mù”.

    Nội dung câu chuyện như sau:

    Có đứa trẻ tên là Hy Minh, con của một bà mẹ sống ở huyện Hán Kỳ, thời Cảnh Đức Vương, lên 5 tuổi thì bỗng dưng bị mù. Một hôm, bà mẹ ôm con tìm đến bức vẽ Thiên Thủ Đại Bi[1] ở bức tường phía Bắc, là tả điện bên trái chùa Phấn Hoàng.



    [1] Hình ảnh Quán Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt giải thoát nỗi thống khổ của chúng sinh, đưa tất cả ước nguyện thành hiện thực.





Scroll To Top