Điện thoại: (04) 62730473 | Fax: (04) 62730478

Xã hội


  • BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở HÀN QUỐC (PHẦN 1)

    Gần đây, theo một khảo sát của Viện Nghiên cứu Phúc lợi và Xã hội Hàn Quốc (KIHASA) với đối tượng là 2.000 nam/nữ chưa kết hôn thì 76% đàn ông và 82% phụ nữ phản đối ý kiến cho rằng kinh nghiệm làm việc của người chồng hơn vợ sẽ giúp đỡ nhiều cho đời sống gia đình. Bên cạnh đó, chỉ có 20% nam giới và 14% nữ giới tán thành quan niệm chồng đi làm kiếm tiền, vợ ở nhà làm nội trợ. Như vậy, hiện tại, ở Hàn Quốc đã có những thay đổi trong nhận thức, đặc biệt là của giới trẻ, về vai trò của người phụ nữ trong gia đình và xã hội hiện đại. Đó là một tín hiệu đáng mừng. Tuy nhiên, xét một cách tổng quan và trên mặt bằng chung thì vấn đề bất bình đẳng giới hay quan niệm “nam tôn, nữ ti” ở Hàn Quốc vẫn là một thực tế cần nhận được nhiều sự quan tâm hơn nữa từ các nhà hoạch định chính sách, có như vậy mới có thể tạo nên những thay đổi tích cực và căn bản cho vị thế của người phụ nữ Hàn Quốc trên bình diện toàn xã hội.

  • XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA VIỆT NAM VỚI PHONG TRÀO LÀNG MỚI SAEMAUL CỦA HÀN QUỐC

    1. Tóm lược về mục tiêu xây dựng nông thôn mới của Việt Nam

    Nghị quyết số 26-NQ/TW, Hội nghị Trung ương 7, khóa X, về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, trong đó có nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới là văn bản trực tiếp và toàn diện nhất của Trung Ương.

    Ngày 04/6/2010, Chính phủ ban hành Quyết định 800 QĐ-TTg, về Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020, nêu rõ 11 nội dung, 19 tiêu chí và 7 nhóm giải pháp.

    Nội dung chủ yếu của nông thôn mới có thể khái quát theo 5 tiêu chí cơ bản sau:

    - Làng, xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại;

    - Sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa;

    - Đời sống vật chất và tinh thần của nông dân, nông thôn ngày càng nâng cao;

    - Bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn;

    - Xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ.

  • QUAN ĐIỂM VỀ KẾT HÔN CỦA GIỚI TRẺ HÀN QUỐC VÀ NHẬT BẢN

    Hàn Quốc và Nhật Bản đều là hai quốc gia có có tỷ lệ sinh thấp. Năm 2005, tỷ lệ sinh của hai nước đạt mức thấp kỷ lục: Hàn Quốc là 1,08  và Nhật Bản là 1,26. Tỷ lệ sinh những năm gần đây của Hàn Quốc và Nhật Bản đều có sự cải thiện nhưng vẫn xếp mức thấp trong số các quốc gia. Tỷ lệ sinh năm 2014 của Nhật Bản là 1,4 (xếp thứ 208 trong số 224 quốc gia) và Hàn Quốc là 1,25 (xếp thứ 219). Tỷ lệ sinh năm 2015 của Hàn Quốc là 1,24 vẫn ở mức thấp hơn 1,46 của Nhật Bản.

  • SỰ THAY ĐỔI TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY (PHẦN 5)

    Sự thay đổi trong văn hóa “đi lại”: phương tiện vận chuyển xe lửa

    Năm 1905, Lục đường Choi Nam Seon đã hoàn thành xây dựng và làm lễ thông tuyến đường sắt Gyeongbu. Đây là tuyến đường sắt đầu tiên ở Hàn Quốc, nối thủ đô Seoul với Pusan. Chiếc tàu hỏa rú còi rền vang, khởi hành từ Nam Dae Moon, chạy nhanh như gió. Thực tế, 9 giờ sáng ngày 18 tháng 9 năm 1899, con “thiết mã”[1] đầu tiên đã bắt đầu chạy tại Hàn Quốc và đến tháng 4 cùng năm tuyến đường sắt Honam thông tuyến và không ai có thể nghĩ rằng thời gian đi từ Seoul đến Kwangju chỉ còn 1 tiếng 33 phút.



    [1] Tàu hỏa.

  • SỰ THAY ĐỔI TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY (Phần 4)

    Sự thay đổi về nhà ở

    Sau giải phóng, kiểu nhà Tatami[1] theo phong cách Nhật Bản dần dần biến mất, kiểu nhà có hệ thống sưởi ấm sàn của Hàn Quốc dần được khôi phục. Ở Hàn Quốc, nhà ở lúc nào cũng trong tình trạng thiếu hụt, vì vậy, có rất nhiều người một năm phải chuyển nhà đến vài lần. Căn cứ vào tài liệu thống kê chúng ta có thể biết được nguyên nhân gây ra tình trạng thiếu nhà ở lúc bấy giờ. Sau giải phóng, dân số của Hàn Quốc chỉ có 15.890.000 người, song số người di cư từ Bắc xuống, kiều bào ở vùng Mãn Châu và Nhật Bản hồi hương khiến dân số tăng lên khoảng 4 triệu người chỉ trong vòng 1 năm. Dân số tăng sau giải phóng là tín hiệu đáng mừng nhưng lại làm cho tình hình nhà ở trở nên khó khăn hơn. Trước tình hình đó, chính phủ Hàn Quốc đã đưa khu dân cư tồi tàn, khu dân cư tạm bợ nhập vào Huam dong và Itaewon Iltae ở thủ đô Seoul và lập nên Haebangchon (Làng giải phóng).



    [1] Nhà ở mang phong cách Nhật Bản, sàn trải bằng thảm Tatami của Nhật.

  • SỰ THAY ĐỔI TRONG VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI HÀN QUỐC TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY

    Lời người dịch: Ngày 15 tháng 8 năm 2015, Hàn Quốc kỷ niệm 70 năm giành độc lập, thoát khỏi ách thống trị của thực dân Nhật. Chặng đường 70 năm với những thăng trầm lịch sử nhưng với tinh thần tự lực tự cường, Hàn Quốc đã vươn lên hóa “rồng”, trở thành một “kỳ tích sông Hàn”, được thế giới khâm phục. Nhưng, trong tâm thức của những người sống trong thời kỳ lịch sử 70 năm đó tận mắt chứng kiến những thay đổi nhanh chóng của đất nước họ vẫn cảm thấy có sự nuối tiếc. Bài viết sau là cảm tưởng của giáo sư Kim Byung Hee, khoa Quan hệ công chúng và Quảng cáo trường đại học Seowon, Hàn Quốc. Chúng tôi dịch và giới thiệu từng phần để bạn đọc tham khảo.

  • GIA TĂNG TỶ LỆ LAO ĐỘNG KHUYẾT TẬT Ở HÀN QUỐC

    Để đánh giá thực trạng việc làm của người khuyết tật ở Hàn Quốc, đầu năm 2015, Bộ Việc làm và Lao động nước này (MOEL) đã tiến hành cuộc điều tra 27.488 nơi làm việc tuyển dụng lao động khuyết tật. Theo quy định của Hàn Quốc, các cơ quan chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, các tổ chức công và doanh nghiệp tư nhân sử dụng 50 lao động trở lên đều phải tuân thủ hạn ngạch lao động khuyết tật. Kết quả cho thấy, số người khuyết tật được tuyển dụng tại các nơi làm việc (bắt buộc phải tuân thủ hạn ngạch lao động khuyết tật) là 158.388 người, đạt 2,54% vào cuối năm 2014, tăng 0,06% so với năm 2013. Đây là năm thứ 4 liên tiếp, tỷ lệ lao động khuyết tật trong các nơi làm việc trên đều có sự gia tăng hơn so với năm trước. Tốc độ gia tăng lần lượt là 2,28% (2011) lên 2,35% (2012), đạt 2,48% (2013) và 2,54% (2014).

  • SỐ LƯỢNG LAO ĐỘNG NAM NGHỈ VIỆC CHĂM SÓC CON TĂNG NHANH Ở HÀN QUỐC

    Theo số liệu mới nhất quý 1 năm 2015 của Bộ Việc làm và Lao động Hàn Quốc, số nam giới nghỉ việc chăm sóc con và số lao động giảm giờ làm để chăm sóc con đều có sự gia tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2014. Tỷ lệ gia tăng tương ứng lần lượt là 55% và 113%[1].  Theo đó, tổng số người nghỉ làm chăm sóc con đã tăng từ 16.180 người (quý 1 năm 2014) lên 19.743 người (quý 1 năm 2015). Số lao động nam nghỉ chăm sóc con đã tăng từ 564 người (quý 1 năm 2014) lên 879 người (quý 1 năm 2015), tức tăng 55,9%. Số người giảm giờ làm trong giai đoạn chăm sóc con đã tăng từ 178 người (quý 1 năm 2014) lên 380 người (quý 1 năm 2015), tức tăng 113,5%. Việc sử dụng nghỉ phép chăm sóc trẻ đã tăng lên đáng kể ở phụ nữ so với trước đây. Song, điều đáng khích lệ hơn là số nam giới nghỉ chăm sóc con và số lao động giảm giờ làm để chăm sóc con đều tăng theo thời gian.



    [1] Số liệu trên không bao gồm công chức, giáo viên, .v.v…

     

  • TÌNH HÌNH LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG NỮ HÀN QUỐC VÀ NHỮNG HÀM Ý CHÍNH SÁCH (Phần 2)

    3. Gia tăng lao động tạm thời

    Sự gia tăng việc làm của phụ nữ Hàn Quốc thời gian gần đây có liên quan tới sự gia tăng lao động tạm thời (lao động làm việc ít hơn 36 giờ). Số lao động tạm thời giảm mạnh ngay sau khủng hoảng tài chính nhưng lại tăng 15,4% trong năm 2010. Theo đó, tỷ lệ lao động tạm thời đã tăng 2,7% từ 19,1% năm 2009 lên 21,8% trong năm 2010, tăng nhiều nhất từ những năm 2000.

  • TÌNH HÌNH LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG NỮ HÀN QUỐC VÀ NHỮNG HÀM Ý CHÍNH SÁCH (Phần 1)

    I. Lực lượng lao động nữ phục hồi sau khủng hoảng

    Thị trường lao động nữ Hàn Quốc đã đạt được sự phục hồi mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008. Tỷ lệ tăng trưởng lao động nữ đã đạt mức 2,1% năm trong khoảng thời gian 2000-2007 và giảm nhanh trong năm 2009 do tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu.





Scroll To Top